Tác giả :
(ĐCSVN) - Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng M­­ười Nga nổ ra thắng lợi, đánh dấu bước đột phá vĩ đại mở đầu thời đại mới. Ngày 7/11/1917, Cách mạng Tháng Mư­­ời Nga thắng lợi và sự ra đời Nhà nư­­ớc xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành biểu t­­ượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với hàng ngàn triệu người thuộc các dân tộc bị áp bức nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, thực dân vùng lên đấu tranh tự giải phóng.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng M­ười Nga, cùng với sự ra đời và phát triển của hàng loạt nư­­ớc xã hội chủ nghĩa trên thế giới, phong trào Cộng sản với t­­ư cách đội tiên phong chính trị và bộ tham mưu chiến đấu của phong trào công nhân quốc tế tr­­ưởng thành vững mạnh về chính trị, tư­­ tư­­ởng và tổ chức, trở thành một lực lượng có ảnh h­­ưởng mang ý nghĩa quyết định đến xu thế vận động của thời đại, lan toả ảnh hư­­ởng sâu rộng đến các dân tộc thuộc địa, làm thức tỉnh và tiếp thêm sức mạnh cho họ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Noi theo tấm g­­ương của Cách mạng Tháng M­ười, phong trào đấu tranh chống đế quốc, giải phóng dân tộc trên thế giới liên tiếp giành được thắng lợi, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa - một vết nhơ của văn minh nhân loại, vốn tồn tại gần nửa thiên niên kỷ; đồng thời khai sinh một thực thể quốc tế mới, bao gồm hơn một trăm quốc gia đang phát triển mới giành đư­­ợc độc lập dân tộc.

Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ đưa các tầng lớp nhân dân lao động Nga khỏi thân phận bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ xã hội, làm chủ đất nước, mà còn mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, soi sáng con đường cho các dân tộc bị áp bức và giải phóng hàng triệu, hàng triệu người lao động trên trái đất, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[1]. Với ý nghĩa đó, Cách mạng Tháng Mười thực sự là cuộc cách mạng xã hội vĩ đại nhất, chân chính nhất và triệt để nhất trong lịch sử.

Hiện nay, các thế lực thù địch, những kẻ chống chủ nghĩa xã hội, những phần tử cơ hội chính trị đang trên mọi cách phủ nhận những giá trị, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười, nhưng họ không thể phủ nhận được một sự thật là, Cách mạng Tháng Mười đã tác động và ảnh hưởng to lớn đến tiến trình vận động và phát triển của thế giới đương đại. Những lý tưởng cao đẹp mà hiện nay nhân loại đang tiếp tục hướng tới như: độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hòa bình, dân chủ, bình đẳng, bác ái cho mọi người, xóa bỏ áp bức, bóc lột, xóa nghèo nàn, lạc hậu, tệ phân biệt chủng tộc... cũng chính là lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Sau hơn 70 năm xây dựng, sự đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô (trước đây) và ở một số nước Đông Âu không phải là “kết quả tất nhiên” của Cách mạng Tháng Mười như các phần tử chống chủ nghĩa xã hội vẫn cố tình lầm tưởng, mà đó là kết quả của sự đi chệch khỏi con đường đã được Cách mạng Tháng Mười soi sáng. Vẫn còn đó nhiều mô hình chủ nghĩa xã hội đầy sức sống là bằng chứng hùng hồn khẳng định sự vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga vào hoàn cảnh cụ thể mỗi nước, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước đó đã đạt được những thành tựu ngày càng to lớn trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước; qua đó khẳng định trên thực tế sự phù hợp quy luật phát triển xã hội của Cách mạng Tháng Mười và giá trị trường tồn của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười trong đời sống nhân loại.

Là một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại của giai cấp vô sản, Cách mạng Tháng Mười Nga đã để lại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cho các dân tộc đang đấu tranh để tự giải phóng nhiều bài học quý báu về nghệ thuật đấu tranh giành và giữ chính quyền, vai trò lãnh đạo của chính Đảng vô sản cầm quyền, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Những bài học đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong quá trình lãnh đạo các tầng lớp nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, xây dựng chế độ xã hội mới theo lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười; thực hiện: “Nhà máy và công xưởng thuộc về người lao động”, “Ruộng đất cho dân cày”, “Hòa bình cho nhân dân” và “Tự do, bình đẳng bác ái cho các dân tộc bị áp bức”.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga với một tư duy mới, nhận thức về chủ nghĩa xã hội. Với kiên định ấy, Đảng ta đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách và mang lại những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng-an ninh, đặc biệt là trong suốt 30 năm thực hiện đổi mới đất nước.

Hiện nay, cách mạng nước ta đang ở vào một thời kỳ mới: thời kỳ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới nhằm mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ta cần đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc; sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, các hoạt động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; đánh bại chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Đúng như V.I.Lê-nin đã chỉ rõ, “phải có một đội quân kiên cường vững mạnh”[2] và “thắng lợi của Chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và trên toàn thế giới đều tùy thuộc vào sự tăng cường quân đội”[3]. Thực tiễn nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng minh những luận điểm đó của V.I.Lê -nin là hoàn toàn đúng đắn và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay vừa có những thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng gặp không ít khó khăn thách thức mới. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lê-nin và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga về xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng cách mạng và từ những bài học đau xót về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông âu trong những năm 90 của thế kỷ XX, việc xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới cần tập trung vào một số định hướng cơ bản sau đây:

Trước hết, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân trong mọi tình huống, nhằm làm cho lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân. Tăng cường công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị Quân đội nhân dân. Chú trọng công tác xây dựng chi bộ, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong các đơn vị dân quân, tự vệ. Đổi mới nội dung, hình thức lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng; sự quản lý điều hành của chính quyền địa phương đối với lực lượng vũ trang; đổi mới nội dung, hình thức kết hợp giữa các cơ quan chức năng của Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội với các đơn vị quân đội, công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh trên địa bàn. Nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng và quản lý của chính quyền các cấp đối với các lực lượng tự vệ ở các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp dân doanh, các lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ đặc biệt, làm nhiệm vụ hợp tác quốc tế. Nghiên cứu thành lập các tổ chức đảng trong các lực lượng tự vệ ở các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở kinh tế tư nhân, đảm bảo nguyên tắc ở đâu có lực lượng vũ trang, ở đó có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Làm tốt công tác phát triển đảng viên trong các lực lượng vũ trang, đặc biệt là trong các đơn vị dân quân, tự vệ ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, trong các đơn vị tự vệ ở các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...

Hai là, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nghiên cứu làm rõ nội dung của các yêu cầu “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo nhận thức mới, tư duy mới, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của lực lượng vũ trang, đảm bảo lực lượng vũ trang nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng và Nhà nước. Đẩy mạnh chính quy hóa và từng bước hiện đại hóa lực lượng vũ trang theo lộ trình phù hợp; nâng cao năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các quân, binh chủng, phấn đấu đạt tới trình độ tinh nhuệ về mọi mặt quân sự, chính trị, chuyên môn, kỹ thuật, đặc biệt là tinh nhuệ về chính trị: có trình độ hiểu biết sâu, rộng lý luận chính trị, giỏi đấu tranh chính trị, đấu tranh tư tưởng, lý luận, chống các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch; hiểu biết đầy đủ các yêu cầu, nội dung đấu tranh quốc phòng, đấu tranh pháp lý, đấu tranh ngoại giao quốc phòng trong hợp tác quốc tế để bảo vệ độc lập, chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc; vừa giỏi đấu tranh bằng phương thức vũ trang, vừa giỏi đấu tranh bằng phương thức phi vũ trang; vừa tinh nhuệ trong tác chiến quân sự vừa tinh nhuệ trong tác chiến phi quân sự chống bạo loạn lật đổ và các hoạt động chống phá bằng quân sự và phi quân sự khác của các thế lực thù địch. Đổi mới cơ cấu và tổ chức phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng. Nghiên cứu phát triển chức năng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung của Quân đội nhân dân nói riêng để quân đội thực hiện tốt chức năng chiến đấu, công tác, sản xuất trong điều kiện mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có số lượng đủ, chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân đội trong mọi tình huống. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng trong quân đội, làm cho chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống chính trị-tinh thần quân đội. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục giác ngộ mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ đoàn kết giữa cán bộ và chiến sỹ, đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phát huy tốt dân chủ nội bộ đi đôi với giữ nguyên kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà Nước. Thực hiện tốt chế độ chính ủy, chính trị viên ở tất cả các cấp, tăng cường hiệu lực của người chỉ huy.

Ba là, xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ rộng khắp, có tổ chức chặt chẽ, có chất lượng cao, thực sự làm nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân ở từng địa phương, từng cơ sở, là một lực lượng xây dựng cơ bản trong xây dựng khu vực phòng thủ. Chăm lo xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh cả chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ phải vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh tại địa phương, vừa tham gia sản xuất, phát triển kinh tế, giữ vững sự ổn định chính trị; trật tự an toàn xã hội ngay trong từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp, từng thôn xóm, bản, làng; làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở, vận động quần chúng nhân dân ngay từ trong từng gia đình, thôn xóm, bản, làng. Trong tình hình mới, cần nghiên cứu tổ chức dân quân, tự vệ sao cho hợp lý, nhất là tổ chức dân quân ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tự vệ trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng dự bị động viên, các lực lượng bán vũ trang đông đảo, tạo nguồn bổ sung lực lượng kịp thời cho lực lượng vũ trang. Chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong dân quân, tự vệ; tăng cường công tác chính trị - tư tưởng, làm cho dân quân, tự vệ thực sự là chỗ dựa vững chắc của cấp ủy, chính quyền các cấp trong thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa phương.

Bốn là, Tăng cường đoàn kết gắn bó giữa nhân dân với các lực lượng vũ trang. Giáo dục và vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng lực lượng vũ trang; ủng hộ và giúp đỡ các lực lượng vũ trang hoàn thành nhiệm vụ. Giáo dục sâu rộng trong toàn dân, nhất là trong thanh thiếu niên, nhi đồng hình ảnh cao đẹp, tấm gương trong sáng về chính trị, đạo đức, lối sống của người chiến sỹ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng trong thời kỳ mới. Có chính sách chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang, đặc biệt là chính sách đối với các lực lượng dân quân ở nông thôn, tự vệ ở thành phố, xí nghiệp, nhà máy, với các lực lượng dự bị động viên trong điều kiện mới.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quôc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đây là vấn đề phải được đặt trong tổng thể của Nhà nước và kế hoạch của Bộ Quốc phòng, dựa trên cơ sở huy động các nguồn tiềm năng sẵn có trong phát triển nghệ thuật quân sự. Đồng thời, bản thân khoa học nghệ thuật quân sự cũng phải tích cực chủ động tham gia phát triển nền khoa học quân sự Việt Nam, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân từng bước tiến lên chính quy, hiện đại sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Quán triệt quan điểm coi trọng vai trò lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng là bảo đảm tính nhất quán, xuyên suốt, kế thừa và liên thông trong triển khai thực hiện quy hoạch chiến lược nghiên cứu phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Đồng thời, phải quan tâm củng cố nền tảng chính trị - xã hội, thống nhất về quan điểm, nhận thức và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Nghiên cứu phát triển lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ mới phải kế thừa và phát huy ý thức tự lực, tự cường, dựa vào nội lực là chủ yếu, đồng thời tranh thủ tối đa những thời cơ thuận lợi để chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt là quan hệ với các đối tác chiến lược.

Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Vận dụng những thành tựu của Cách mạng Tháng Mười Nga trong điều kiện mới ở Việt Nam, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Chính phủ, Bộ Quốc phòng những vấn đề liên quan đến phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân một cách sát thực, đúng với yêu cầu thực tiễn đặt ra, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 12, tr. 300.
[2] V.l.Lênin toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát -xcơ-va, 1978, tập 36, 37, tr. 423, 114.
[3] V.l.Lênin toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát -xcơ-va, 1978, tập 36, 37, tr. 423, 114.


Thượng tướng, Viện sĩ, TS KHQS Nguyễn Huy Hiệu
Nguyên Uỷ viên BCHTƯ Đảng, Thứ trưởng BQP
Theo www.dangcongsan.vn


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
   
  
 
 
   
 *

Truy cập tháng:16,966

Tổng truy cập:152,937

Copyright © 2013, Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật - TP.HCM

Địa chỉ: 1 Võ Văn Ngân, Quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Điện thoại: (+84 - 8) 38968641 - (+84 - 8) 38961333

E-mail: kllct@hcmute.edu.vn